Quyết định không khởi tố vụ án hình sự là văn bản tố tụng khép lại quá trình xác minh khi cơ quan có thẩm quyền xác định không đủ căn cứ để mở vụ án hình sự. Đây là kết quả thường gặp sau khi tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố, song không phải ai cũng hiểu rõ vì sao vụ việc của mình được xử lý theo hướng này. Nhiều người tố giác, thậm chí cả người bị tố giác, còn nhầm lẫn giữa việc không khởi tố với việc hành vi hoàn toàn không có sai phạm. Bài viết dưới đây trình bày căn cứ pháp lý, thẩm quyền ban hành, trình tự thực hiện và quyền khiếu nại đối với loại quyết định này theo quy định hiện hành.
Quyết định không khởi tố vụ án hình sự là gì?
Bản chất pháp lý của quyết định không khởi tố
Trong quá trình tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo Điều 145 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành kiểm tra, xác minh để xác định có hay không dấu hiệu tội phạm. Khi kết quả xác minh cho thấy không tồn tại căn cứ để mở vụ án, người có thẩm quyền khởi tố sẽ ban hành quyết định không khởi tố vụ án hình sự theo Điều 158 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Đây là văn bản tố tụng chính thức, chấm dứt giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm mà không chuyển sang giai đoạn điều tra.
Cần lưu ý rằng quyết định này không phải là sự phán xét về việc bên nào đúng, bên nào sai trong mối quan hệ giữa các bên liên quan. Đây thuần túy là một đánh giá pháp lý về sự tồn tại của dấu hiệu tội phạm dựa trên tài liệu, chứng cứ đã thu thập được tại thời điểm xác minh, không mang tính chất kết luận cuối cùng về toàn bộ nội dung sự việc trên các phương diện pháp lý khác.
Phân biệt với quyết định đình chỉ vụ án và các hình thức xử lý khác
Quyết định không khởi tố khác với quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án được quy định tại Điều 230 và Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Đình chỉ vụ án chỉ phát sinh sau khi vụ án đã được khởi tố và đang trong giai đoạn điều tra hoặc truy tố, trong khi không khởi tố là quyết định được ban hành ngay từ giai đoạn kiểm tra, xác minh, tức vụ án chưa từng được mở.
Một điểm quan trọng khác là việc không khởi tố vụ án hình sự không đồng nghĩa với việc hành vi được xác minh hoàn toàn không có sai phạm. Tùy theo tính chất của sự việc, hành vi vẫn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc được các bên giải quyết bằng con đường dân sự nếu có thiệt hại thực tế xảy ra trên thực tế.
Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự theo Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự
Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 4 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự 2021, quy định rằng cơ quan có thẩm quyền không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong tám căn cứ dưới đây. Các căn cứ này được chia thành ba nhóm chính, tùy theo bản chất pháp lý của từng trường hợp.
Nhóm căn cứ liên quan đến sự việc và hành vi phạm tội
Nhóm căn cứ đầu tiên gắn với việc đánh giá bản chất khách quan của sự việc được tố giác, gồm hai trường hợp:
- Không có sự việc phạm tội, tức là sự việc được phản ánh trong tố giác hoặc tin báo hoàn toàn không xảy ra trên thực tế, hoặc có xảy ra nhưng không mang tính chất hình sự;
- Hành vi không cấu thành tội phạm, tức là sự việc có xảy ra nhưng thiếu một hoặc nhiều yếu tố bắt buộc của cấu thành tội phạm theo Bộ luật Hình sự hiện hành.
Trên thực tế, nhiều tranh chấp dân sự, kinh tế hoặc lao động thường bị tố giác dưới danh nghĩa hành vi phạm tội. Khi kết quả xác minh cho thấy không có yếu tố gian dối hoặc ý định chiếm đoạt tài sản ngay từ đầu, cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định không khởi tố với căn cứ này và hướng dẫn các bên giải quyết bằng con đường tố tụng dân sự.

Nhóm căn cứ liên quan đến chủ thể thực hiện hành vi và thời hiệu truy cứu
Nhóm căn cứ thứ hai tập trung vào những tình huống làm chấm dứt khả năng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi, dù hành vi đó có dấu hiệu tội phạm, bao gồm:
- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
- Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
- Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Tội phạm đã được đại xá;
- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính kể từ ngày tội phạm được thực hiện, không phải từ ngày cơ quan chức năng phát hiện sự việc. Theo Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015, thời hiệu này dao động từ năm năm đến hai mươi năm tùy theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm. Khi đã hết thời hiệu, dù chứng cứ thu thập được rõ ràng đến đâu, vụ án vẫn không thể được khởi tố.

Trường hợp tội phạm chỉ khởi tố theo yêu cầu của bị hại
Căn cứ thứ tám áp dụng riêng đối với nhóm tội phạm mà việc khởi tố phụ thuộc vào ý chí của bị hại theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Cụ thể, không được khởi tố vụ án đối với tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ luật Hình sự nếu bị hại hoặc người đại diện của bị hại không có yêu cầu khởi tố. Đây là các tội danh liên quan đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của cá nhân, nơi pháp luật tôn trọng quyền tự định đoạt của bị hại trong việc lựa chọn xử lý hành vi xâm phạm đến quyền lợi của chính mình.
Thẩm quyền ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự
Theo khoản 1 Điều 158 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, khi có một trong các căn cứ tại Điều 157, người có quyền khởi tố vụ án cũng chính là người có thẩm quyền ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Thẩm quyền khởi tố vụ án được quy định cụ thể tại Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Cơ quan điều tra và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Cơ quan điều tra có thẩm quyền quyết định không khởi tố đối với tất cả vụ việc có dấu hiệu tội phạm, trừ những vụ việc do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát hoặc Hội đồng xét xử đang thụ lý, giải quyết. Bên cạnh đó, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và một số cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân khi được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng có quyền ra quyết định không khởi tố trong phạm vi vụ việc mình thụ lý.
Viện kiểm sát và Hội đồng xét xử
Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định không khởi tố trong các trường hợp Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, hoặc trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm mà kết quả xác minh cho thấy không đủ căn cứ khởi tố. Riêng Hội đồng xét xử chỉ có quyền yêu cầu khởi tố khi qua xét xử phát hiện việc bỏ lọt tội phạm, nên không trực tiếp ban hành quyết định không khởi tố, mà thẩm quyền này thuộc về Viện kiểm sát khi xem xét yêu cầu của Hội đồng xét xử.

Trình tự, thủ tục ban hành quyết định không khởi tố vụ án hình sự
Thời hạn kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm
Theo Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố là hai mươi ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo. Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải xác minh tại nhiều địa điểm, thời hạn này có thể được gia hạn nhưng không quá hai tháng. Trong suốt quá trình này, cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động xác minh cần thiết như lấy lời khai, thu thập tài liệu, trưng cầu giám định để làm rõ có hay không dấu hiệu tội phạm.
Nội dung quyết định và nghĩa vụ gửi, thông báo
Khi có đủ căn cứ theo Điều 157, người có thẩm quyền ban hành quyết định không khởi tố vụ án hình sự, trong đó phải nêu rõ căn cứ pháp lý cụ thể được áp dụng trong số tám căn cứ nêu trên. Trường hợp trước đó đã ra quyết định khởi tố, cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố và thông báo rõ lý do cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố. Nếu xét thấy sự việc cần được xử lý bằng biện pháp khác, hồ sơ sẽ được chuyển cho cơ quan có thẩm quyền tương ứng để giải quyết.
Theo khoản 1 Điều 158 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, theo khoản 1 Điều 158 Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự cùng các tài liệu liên quan phải được gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn hai mươi bốn giờ kể từ khi ban hành, để Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Đây là cơ chế kiểm soát quan trọng nhằm bảo đảm quyết định được ban hành đúng căn cứ và đúng trình tự pháp luật quy định.
Hệ quả pháp lý sau khi có quyết định không khởi tố vụ án hình sự
Đối với người bị tố giác
Khi quyết định không khởi tố vụ án hình sự có hiệu lực, người bị tố giác không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi được xác minh trong phạm vi tố giác, tin báo đó. Tuy nhiên, như đã đề cập, điều này không loại trừ khả năng hành vi vẫn bị xem xét xử lý theo quy định của pháp luật hành chính, pháp luật dân sự hoặc quy chế kỷ luật của cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác, tùy vào tính chất và mức độ của hành vi đã được xác minh. Việc nắm rõ căn cứ cụ thể được áp dụng trong quyết định cũng giúp người bị tố giác chủ động hơn trong việc giải trình nếu sự việc tiếp tục được xem xét dưới hình thức xử lý khác ngoài phạm vi hình sự.
Đối với người tố giác và bị hại
Người tố giác, báo tin về tội phạm và bị hại có quyền được thông báo bằng văn bản về việc không khởi tố cùng lý do cụ thể. Đây là cơ sở để các chủ thể này đánh giá tính hợp pháp của quyết định và quyết định có thực hiện quyền khiếu nại hay không. Trường hợp có căn cứ cho rằng quyết định chưa phản ánh đúng bản chất sự việc, người tố giác và bị hại hoàn toàn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét lại theo trình tự khiếu nại được trình bày ở phần tiếp theo.
Quyền khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hình sự
Chủ thể có quyền khiếu nại và thời hiệu khiếu nại
Theo khoản 2 Điều 158 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm có quyền khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hình sự nếu có căn cứ cho rằng quyết định đó chưa đúng pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Căn cứ Điều 471 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hiệu khiếu nại là mười lăm ngày kể từ ngày người khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định. Trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể thực hiện quyền khiếu nại đúng thời hạn, khoảng thời gian đó sẽ không được tính vào thời hiệu khiếu nại theo quy định.
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại
Thẩm quyền và thủ tục giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định tại Chương XXXIII Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Đối với quyết định không khởi tố do Thủ trưởng Cơ quan điều tra ban hành, theo Điều 475 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, và quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp có hiệu lực pháp luật. Trường hợp quyết định không khởi tố do chính Viện kiểm sát ban hành, việc khiếu nại được giải quyết theo thẩm quyền của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp theo quy định tương ứng của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Trong cả hai trường hợp, người khiếu nại nếu không đồng ý với kết quả giải quyết lần đầu vẫn có thể tiếp tục thực hiện quyền khiếu nại lên cấp có thẩm quyền cao hơn trong thời hạn luật định, thay vì tự ý gửi đơn tố giác mới với cùng nội dung sự việc đã được xem xét.
Một số lưu ý khi nhận được quyết định không khởi tố vụ án hình sự
Việc chủ động nắm bắt nội dung và tuân thủ đúng trình tự pháp luật sẽ giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình một cách hiệu quả. Khi nhận được quyết định không khởi tố vụ án hình sự, cần lưu ý một số điểm sau:
- Kiểm tra kỹ căn cứ pháp lý được viện dẫn trong quyết định có thuộc đúng một trong tám căn cứ tại Điều 157 hay không;
- Xác định chính xác thời điểm nhận được hoặc biết được quyết định để tính đúng thời hiệu khiếu nại mười lăm ngày;
- Chuẩn bị đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh tình tiết bị bỏ sót hoặc bị đánh giá chưa đúng nếu có ý định khiếu nại;
- Cân nhắc các hướng xử lý khác như khởi kiện dân sự nếu sự việc không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng có thiệt hại thực tế xảy ra.
Trên thực tế, không ít trường hợp mất quyền khiếu nại chỉ vì không lưu giữ đầy đủ giấy tờ giao nhận hoặc bỏ qua mốc thời gian mười lăm ngày nêu trên. Khi có căn cứ để cho rằng quyết định chưa được ban hành đúng quy định, việc gửi đơn khiếu nại kèm tài liệu chứng minh đến cơ quan có thẩm quyền là hướng xử lý phù hợp hơn nhiều so với việc tiếp tục gửi đơn tố giác mới với cùng nội dung sự việc.
Một số câu hỏi thường gặp về quyết định không khởi tố vụ án hình sự
Quyết định không khởi tố vụ án hình sự có đồng nghĩa với việc vụ việc được khép lại vĩnh viễn hay không?
Không hoàn toàn như vậy. Nếu sau này phát hiện tình tiết mới hoặc quyết định bị hủy bỏ theo thủ tục khiếu nại, cơ quan có thẩm quyền vẫn có thể xem xét khởi tố lại vụ án, miễn là còn trong phạm vi thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015.
Người bị tố giác có được nhận quyết định không khởi tố vụ án hình sự hay không?
Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định nghĩa vụ thông báo trước tiên đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm. Trên thực tế, người bị tố giác cũng có thể tiếp cận thông tin về kết quả giải quyết thông qua cơ quan đã thụ lý nếu có yêu cầu chính đáng liên quan trực tiếp đến quyền lợi của mình.
Nếu khiếu nại không thành, người tố giác còn cách nào khác để bảo vệ quyền lợi không?
Trường hợp sự việc gây ra thiệt hại thực tế nhưng không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người bị thiệt hại vẫn có thể khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu bồi thường theo quy định của Bộ luật Dân sự, độc lập với kết quả giải quyết theo thủ tục tố tụng hình sự.
Thời điểm nào được tính để bắt đầu thời hiệu khiếu nại mười lăm ngày?
Thời hiệu được tính kể từ ngày người khiếu nại nhận được văn bản thông báo hoặc biết được sự tồn tại của quyết định không khởi tố, chứ không phải từ ngày quyết định được ký ban hành. Vì vậy, việc lưu giữ chứng cứ về thời điểm nhận văn bản, chẳng hạn biên bản giao nhận hoặc bưu phẩm chuyển phát, có ý nghĩa quan trọng để bảo đảm quyền khiếu nại không bị mất do quá thời hạn.
Có bắt buộc phải có luật sư khi thực hiện thủ tục khiếu nại quyết định không khởi tố hay không?
Pháp luật không bắt buộc phải có luật sư tham gia trong thủ tục khiếu nại. Tuy nhiên, do việc đánh giá đúng căn cứ pháp lý được viện dẫn và xây dựng lập luận khiếu nại đòi hỏi kiến thức chuyên môn nhất định về tố tụng hình sự, sự hỗ trợ của luật sư thường giúp hồ sơ khiếu nại được chuẩn bị đầy đủ và có khả năng được xem xét thấu đáo hơn.
Quyết định không khởi tố vụ án hình sự là văn bản tố tụng có giá trị pháp lý ràng buộc, chỉ được ban hành khi sự việc thuộc một trong tám căn cứ quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Việc xác định đúng căn cứ áp dụng, kiểm tra tính đúng đắn của trình tự ban hành và tận dụng đúng thời hạn khiếu nại là những yếu tố quyết định đến khả năng bảo vệ quyền lợi của người tố giác, bị hại cũng như người bị tố giác trong từng vụ việc cụ thể. Nếu cần được tư vấn đối với một tình huống cụ thể, bạn đọc có thể liên hệ đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm để được xem xét hồ sơ và có hướng xử lý phù hợp.
Hãng Luật Thủ Đức Sài Gòn
- Số 01 đường số 2, Phường Linh Chiểu, TP. Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh
- Số điện thoại: 0937.218.686
- Email: luatsunguyenhuungoc@gmail.com
