Các trường hợp tạm giam để điều tra luôn là nội dung được bị can, bị cáo, người thân của họ và những người quan tâm đến pháp luật hình sự tìm hiểu kỹ trước khi vụ án được giải quyết. Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do thân thể của một người nên chỉ được áp dụng khi có căn cứ rõ ràng và đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bài viết dưới đây tổng hợp đầy đủ các trường hợp bị can, bị cáo có thể bị tạm giam để phục vụ công tác điều tra, đồng thời làm rõ điều kiện áp dụng, thẩm quyền ra lệnh, thời hạn tạm giam cũng như quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giam theo quy định pháp luật hiện hành.
Tạm giam là gì theo quy định pháp luật hiện hành?
Khái niệm tạm giam
Tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự, áp dụng đối với bị can, bị cáo nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, ngăn ngừa việc bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội, gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hoặc bỏ trốn, đồng thời bảo đảm cho việc thi hành án được thực hiện đúng quy định. Do tính chất nghiêm khắc, việc áp dụng biện pháp tạm giam phải tuân thủ chặt chẽ các căn cứ, điều kiện và trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, tránh tình trạng lạm dụng làm ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân của người bị buộc tội.
Người bị tạm giam theo quy định mới nhất
Theo khoản 2 Điều 2 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026, người bị tạm giam là người đang bị cơ sở giam giữ quản lý trong thời hạn tạm giam, gia hạn tạm giam theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bao gồm bị can, bị cáo, người bị tạm giam để thực hiện việc dẫn độ, người đang chờ chấp hành án phạt tù và người bị kết án tử hình đang chờ thi hành án. Quy định này có sự điều chỉnh nhất định so với Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 trước đây nhằm phù hợp hơn với thực tiễn thi hành pháp luật hình sự.
Các trường hợp tạm giam để điều tra theo bộ luật tố tụng hình sự
Căn cứ Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực từ 01/7/2025), bị can, bị cáo có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam để phục vụ hoạt động điều tra trong các trường hợp sau đây.
Trường hợp bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng
Tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng mà không cần thêm căn cứ nào khác, xuất phát từ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn của loại tội phạm này. Cụ thể, tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 07 năm đến 15 năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
Trường hợp phạm tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng có căn cứ cụ thể
Đối với bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng hoặc tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm, biện pháp tạm giam chỉ được áp dụng khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm.
- Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can.
- Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn.
- Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội.
- Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật, tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án, đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
Ngoài ra, đối với bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm, tạm giam chỉ được áp dụng nếu người đó tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã. Trong đó, tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 03 năm đến 07 năm tù; tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm.
Trường hợp đặc biệt đối với phụ nữ mang thai, người già yếu, người bệnh nặng
Về nguyên tắc, bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu hoặc người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không bị tạm giam mà được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác phù hợp hơn. Tuy nhiên, những đối tượng này vẫn có thể bị tạm giam nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.
- Tiếp tục phạm tội.
- Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật, tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án, đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này.
- Là bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.
Quy định này thể hiện rõ chính sách nhân đạo của Nhà nước, đồng thời vẫn bảo đảm hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm trong những trường hợp thực sự cần thiết.
Điều kiện và thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam
Điều kiện cần thiết để ra lệnh tạm giam
Để áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xác định người bị buộc tội thuộc một trong các trường hợp được pháp luật cho phép tạm giam nêu trên, đồng thời việc áp dụng phải thực sự cần thiết nhằm ngăn chặn nguy cơ bỏ trốn, tiếp tục phạm tội hoặc gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Việc ra lệnh, quyết định tạm giam còn phải tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, không được áp dụng tùy tiện làm ảnh hưởng đến quyền tự do thân thể của công dân.
Thẩm quyền ra lệnh, quyết định và phê chuẩn tạm giam
Người có thẩm quyền ra lệnh, quyết định tạm giam bao gồm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự các cấp. Riêng lệnh tạm giam của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam cùng đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ liên quan, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn; ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn, Viện kiểm sát phải hoàn trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra. Sau khi thi hành lệnh tạm giam, Cơ quan điều tra phải kiểm tra căn cước của người bị tạm giam và thông báo ngay cho gia đình người bị tạm giam, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập biết.
Thời hạn tạm giam để điều tra và quy định gia hạn
Thời hạn tạm giam ban đầu theo từng loại tội phạm
Theo Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hạn tạm giam bị can để điều tra được xác định tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của từng loại tội phạm, cụ thể như sau:
- Không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng.
- Không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng.
- Không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Việc quy định thời hạn tạm giam khác nhau theo từng loại tội phạm nhằm bảo đảm thời gian cần thiết cho cơ quan điều tra thu thập chứng cứ, làm rõ hành vi phạm tội, đồng thời hạn chế tối đa việc kéo dài không cần thiết biện pháp ngăn chặn này, tránh ảnh hưởng quá mức đến quyền tự do của bị can.
Quy định về gia hạn thời hạn tạm giam
Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, cần thêm thời gian điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam. Thời hạn gia hạn tạm giam được quy định như sau:
- Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần, không quá 01 tháng.
- Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần, không quá 02 tháng.
- Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần, không quá 03 tháng.
- Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng.
Việc gia hạn tạm giam phải có căn cứ rõ ràng, được Viện kiểm sát xem xét, quyết định đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục nhằm bảo đảm không hạn chế quyền tự do của bị can vượt quá mức cần thiết cho hoạt động điều tra.
Quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giam trong quá trình điều tra
Quyền của người bị tạm giam
Người bị tạm giam có quyền được biết lý do mình bị tạm giam, được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Họ có quyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến mà không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội, được tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, được gặp người bào chữa theo quy định. Bên cạnh đó, người bị tạm giam còn có quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu và khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nếu cho rằng việc áp dụng biện pháp tạm giam không đúng quy định pháp luật.
Nghĩa vụ của người bị tạm giam
Song song với các quyền được pháp luật bảo đảm, người bị tạm giam có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh nội quy, quy chế của cơ sở giam giữ, thực hiện đầy đủ các yêu cầu hợp pháp của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và không được có hành vi gây cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Việc bảo đảm hài hòa giữa quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giam góp phần cân bằng giữa yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và việc bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự.
Một số câu hỏi thường gặp về các trường hợp tạm giam để điều tra
Người dưới 18 tuổi có thể bị tạm giam để điều tra không?
Có. Tuy nhiên, việc tạm giam người dưới 18 tuổi phải tuân thủ điều kiện chặt chẽ hơn so với người đã thành niên: chỉ được áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội về tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, và khi thực sự cần thiết theo các căn cứ riêng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15 (có hiệu lực từ 01/01/2026).
Bị can có thể được thay đổi biện pháp tạm giam sang biện pháp khác không?
Có thể. Trong quá trình điều tra, nếu xét thấy không còn căn cứ để tiếp tục tạm giam hoặc biện pháp ngăn chặn khác phù hợp hơn, cơ quan có thẩm quyền có thể quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam theo đúng trình tự, thủ tục luật định.
Ai có quyền phê chuẩn lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra?
Lệnh tạm giam do Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra ban hành phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các trường hợp tạm giam để điều tra đã được Bộ luật Tố tụng hình sự quy định rõ ràng, chặt chẽ nhằm vừa bảo đảm hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử, vừa tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân của người bị buộc tội. Việc nắm rõ các căn cứ, điều kiện, thẩm quyền cũng như thời hạn tạm giam giúp bị can, bị cáo và người thân chủ động hơn khi tham gia tố tụng, đồng thời kịp thời thực hiện quyền khiếu nại nếu việc áp dụng tạm giam không đúng quy định pháp luật. Trường hợp cần tư vấn, hỗ trợ pháp lý cụ thể, quý khách hàng có thể liên hệ đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm để được giải đáp kịp thời, chính xác.
Hãng Luật Thủ Đức Sài Gòn
- Số 01 đường số 2, Phường Linh Chiểu, TP. Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh
- Số điện thoại: 0937.218.686
- Email: luatsunguyenhuungoc@gmail.com
