Tin tức · Ngày cập nhật: 28/08/2026 · 39 phút đọc · Đăng bởi Luật sư Nguyễn Hữu Ngọc

Tội Không Truy Cứu Trách Nhiệm Hình Sự Người Có Tội Là Gì?

Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội
Chia sẻ:

Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là một trong những tội danh xâm phạm hoạt động tư pháp, phản ánh sự tha hóa quyền lực của người có thẩm quyền khi giải quyết vụ án hình sự. Khi biết rõ một người đã phạm tội nhưng vẫn cố tình không khởi tố, không truy tố hoặc tìm cách bỏ lọt, người có thẩm quyền không chỉ vi phạm nguyên tắc mọi tội phạm phải bị xử lý kịp thời, mà còn xâm hại uy tín cơ quan tố tụng và niềm tin của xã hội vào công lý. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đã dành riêng Điều 369 để xử lý nghiêm hành vi này. Bài viết dưới đây phân tích khái niệm, cấu thành tội phạm, khung hình phạt và những vấn đề pháp lý liên quan.

Mục lục

Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội

Khái niệm và bản chất pháp lý

Không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là việc người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng, dù biết rõ một người đã thực hiện hành vi phạm tội, còn đủ căn cứ và còn thời hiệu để xử lý hình sự, nhưng vẫn cố ý không ra quyết định khởi tố, không phê chuẩn quyết định khởi tố, không đề nghị truy tố hoặc không truy tố người đó. Đây là dạng hành vi bỏ lọt tội phạm xuất phát từ chính người được Nhà nước trao quyền xử lý tội phạm, nên tính nguy hiểm của hành vi không chỉ nằm ở việc người phạm tội thoát khỏi sự trừng phạt, mà còn làm biến dạng chức năng của bộ máy tố tụng, biến công cụ bảo vệ công lý thành phương tiện dung túng cho tội phạm.

Điểm mấu chốt để xác định hành vi này là yếu tố biết rõ. Người có thẩm quyền phải nhận thức được một cách chắc chắn rằng người mà mình không truy cứu là người có tội, tức là hành vi của họ đã thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành một tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật Hình sự, đồng thời còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và không thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo luật định. Nếu vì trình độ chuyên môn hạn chế, do nhận thức pháp luật chưa đầy đủ hoặc do những lý do khách quan khác mà người có thẩm quyền không nhận biết được người đó có tội thì không đủ căn cứ để xử lý về tội danh này.

Ý nghĩa của việc hình sự hóa hành vi bỏ lọt tội phạm

Việc pháp luật hình sự dành riêng một điều luật để xử lý nghiêm hành vi không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội mang nhiều ý nghĩa quan trọng. Trước hết, quy định này góp phần bảo đảm nguyên tắc pháp chế và sự thượng tôn pháp luật, theo đó mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh, tránh tình trạng bỏ lọt người, lọt tội. Bên cạnh đó, tội danh này còn có tác dụng răn đe, buộc người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, giữ vững sự liêm chính và không được lạm dụng vị trí công tác để bao che cho tội phạm dưới bất kỳ hình thức nào.

Ngoài ra, việc xử lý nghiêm hành vi bỏ lọt tội phạm còn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người tố giác tội phạm và nhân chứng, bởi lẽ khi người phạm tội không bị xử lý, nguy cơ những người này bị trả thù hoặc bị đe dọa sẽ tăng lên đáng kể. Cuối cùng, quy định tại Điều 369 còn góp phần củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống cơ quan bảo vệ pháp luật, khẳng định thông điệp rằng không có vùng cấm hay ngoại lệ nào đối với người thực hiện hành vi phạm tội, kể cả khi việc bỏ lọt xuất phát từ chính người có thẩm quyền xử lý vụ án.

Quy định tại Điều 369 Bộ luật Hình sự về tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội

Nội dung điều luật hiện hành

Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội hiện được quy định tại Điều 369 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, với nội dung cụ thể như sau:

1. Người nào có thẩm quyền mà không truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là có tội, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Không truy cứu trách nhiệm hình sự người thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng;

b) Đối với 02 người đến 05 người;

c) Người không bị truy cứu trách nhiệm hình sự bỏ trốn hoặc thực hiện hành vi cản trở điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;

d) Dẫn đến việc người không bị truy cứu trách nhiệm hình sự trả thù người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị hại, nhân chứng;

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Đối với 06 người trở lên;

b) Không truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

c) Người không bị truy cứu trách nhiệm hình sự tiếp tục thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

d) Làm người bị hại tự sát.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Cách hiểu về ba khung hình phạt chính

Có thể thấy điều luật xây dựng ba khung hình phạt tăng dần theo mức độ nguy hiểm của hành vi. Khung cơ bản tại khoản 1 áp dụng cho trường hợp thông thường, chưa có tình tiết định khung tăng nặng, với mức phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Khung tăng nặng thứ nhất tại khoản 2 áp dụng khi hành vi phạm tội thuộc một trong năm trường hợp được liệt kê, với mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Khung tăng nặng thứ hai, cũng là khung nghiêm khắc nhất tại khoản 3, áp dụng cho các trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng hoặc liên quan đến loại tội phạm nguy hiểm bậc cao, với mức phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.

Hình phạt bổ sung

Bên cạnh hình phạt chính là phạt tù, khoản 4 Điều 369 còn quy định hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Quy định này xuất phát từ đặc thù chủ thể của tội phạm là người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng, do đó việc cấm đảm nhiệm chức vụ có ý nghĩa ngăn ngừa khả năng người phạm tội tiếp tục lợi dụng vị trí công tác để thực hiện hành vi tương tự sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

Cấu thành tội phạm của tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội

Khách thể của tội phạm

Khách thể mà tội phạm này xâm phạm là hoạt động đúng đắn của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử tội phạm, cụ thể là nguyên tắc mọi hành vi phạm tội đều phải bị xử lý kịp thời, nghiêm minh, không bỏ lọt tội phạm. Ngoài uy tín của cơ quan tố tụng, hành vi phạm tội này còn xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đặc biệt là quyền được bảo vệ của bị hại khi người gây thiệt hại cho họ không bị xử lý theo đúng quy định pháp luật.

Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội phạm này thể hiện dưới dạng không hành động, tức là người có thẩm quyền không thực hiện các thao tác tố tụng cần thiết để đưa người có tội ra xử lý theo quy định. Cụ thể, hành vi không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội có thể biểu hiện qua việc không ra quyết định khởi tố vụ án hoặc khởi tố bị can dù có đủ căn cứ, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án một cách trái quy định, không đề nghị truy tố hoặc không quyết định việc truy tố đối với người mà mình biết rõ là có tội.

Đối với Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, hành vi phạm tội thường thể hiện qua việc ra quyết định không khởi tố vụ án, không khởi tố bị can hoặc ra quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra không đúng căn cứ pháp luật. Đối với Điều tra viên, hành vi có thể là không lập hồ sơ vụ án, không triệu tập, hỏi cung bị can hoặc không tiến hành các hoạt động điều tra cần thiết theo phân công. Đối với Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên, hành vi thường biểu hiện qua việc không phê chuẩn các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, không kiểm sát đầy đủ hoạt động điều tra hoặc không quyết định việc truy tố đối với người có tội.

Một điểm cần lưu ý là phạm vi thẩm quyền khởi tố của từng loại chủ thể không hoàn toàn giống nhau. Theo Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự, đối với các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, thẩm quyền khởi tố được phân định theo tính chất vụ việc: nếu là tội phạm ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng, các cơ quan này được quyết định khởi tố cả vụ án và khởi tố bị can; còn đối với tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội ít nghiêm trọng nhưng phức tạp, các cơ quan này chỉ có thẩm quyền khởi tố vụ án, tiến hành điều tra ban đầu rồi chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để khởi tố bị can.

Do đó, trong nhóm trường hợp thứ hai, nếu các cơ quan này không khởi tố vụ án dù có đủ căn cứ, hành vi đó về nguyên tắc khó cấu thành tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội theo Điều 369, bởi lẽ việc khởi tố bị can, dấu hiệu gắn liền với việc “truy cứu trách nhiệm hình sự” theo tinh thần điều luật, vẫn thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát. Đây là cách hiểu phổ biến trong thực tiễn áp dụng pháp luật, tuy nhiên cần lưu ý rằng bản thân Điều 369 không quy định minh thị về giới hạn này, nên khi xử lý cụ thể vẫn cần đánh giá toàn diện vai trò, hành vi của từng chủ thể trong chuỗi tố tụng.

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành cơ bản của tội phạm này, tội phạm được coi là hoàn thành ngay khi người có thẩm quyền cố ý không truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là có tội, không phụ thuộc việc hậu quả cụ thể đã xảy ra hay chưa. Tuy nhiên, nếu hậu quả xảy ra trên thực tế, chẳng hạn như người không bị truy cứu tiếp tục phạm tội, trả thù người tố giác hoặc khiến bị hại tự sát, thì đây sẽ là căn cứ để xử lý người phạm tội theo khung hình phạt tăng nặng tương ứng tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 369.

Mặt chủ quan của tội phạm

Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội chỉ có thể được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ ràng rằng người mà mình không truy cứu là người đã thực hiện hành vi phạm tội, có đầy đủ căn cứ pháp lý để xử lý hình sự, còn thời hiệu truy cứu và không thuộc diện được miễn trách nhiệm hình sự, nhưng vẫn mong muốn hoặc chấp nhận việc không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đó. Nếu người có thẩm quyền không nhận thức được người mà mình không truy cứu là người có tội do hạn chế về trình độ nghiệp vụ hoặc do những nguyên nhân khách quan khác, thì không thỏa mãn dấu hiệu chủ quan của tội danh này.

Về động cơ phạm tội, thực tiễn cho thấy động cơ có thể rất đa dạng, xuất phát từ mối quan hệ cá nhân, lợi ích vật chất hoặc do bị tác động, ép buộc. Tuy nhiên, pháp luật không coi động cơ là dấu hiệu bắt buộc để định tội, mà chỉ xem xét như một tình tiết có ý nghĩa khi quyết định hình phạt.

Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là chủ thể đặc biệt, chỉ những người có thẩm quyền trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố mới có thể là chủ thể của tội phạm này. Căn cứ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về thẩm quyền khởi tố bị can, đề nghị truy tố và quyết định việc truy tố, có thể xác định chủ thể của tội phạm này bao gồm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên được phân công giải quyết vụ án.

Đối với tội phạm ít nghiêm trọng, phạm vi chủ thể còn có thể mở rộng đến người có thẩm quyền của một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, chẳng hạn như Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và một số cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, trong phạm vi thẩm quyền khởi tố bị can được pháp luật quy định. Ngoài yêu cầu về thẩm quyền, chủ thể của tội phạm này còn phải thỏa mãn điều kiện chung là có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Về mặt lý luận, nếu Điều tra viên, Kiểm sát viên đã bảo lưu ý kiến và báo cáo cấp có thẩm quyền cao hơn trước khi chấp hành mệnh lệnh, thì có thể không thỏa mãn dấu hiệu lỗi cố ý trực tiếp của tội phạm này, do không thể hiện ý chí chủ động không truy cứu. Ngược lại, nếu đã đề xuất xử lý người có tội nhưng sau đó lại đồng tình, không phản bác khi cấp trên quyết định không truy cứu, thì vẫn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp việc chấp hành xuất phát từ quan hệ lệ thuộc mà họ không còn khả năng lựa chọn khác, khi đó có thể được xem xét miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.

Các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng theo Điều 369 Bộ luật Hình sự

Nhóm tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 2 Điều 369

Khoản 2 Điều 369 quy định năm tình tiết định khung tăng nặng khiến khung hình phạt được nâng lên từ 02 năm đến 07 năm tù. Tình tiết thứ nhất là không truy cứu đối với người thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, do nhóm tội này vốn có mức độ nguy hiểm cao nên việc bỏ lọt càng làm gia tăng thiệt hại cho xã hội. Tình tiết thứ hai là không truy cứu đối với từ 02 người đến 05 người, phản ánh phạm vi bỏ lọt tội phạm rộng hơn so với trường hợp đơn lẻ.

Tình tiết thứ ba xảy ra khi người không bị truy cứu bỏ trốn hoặc có hành vi cản trở điều tra, truy tố, xét xử, hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng khác. Tình tiết thứ tư liên quan đến hậu quả người không bị truy cứu trả thù người tố giác, bị hại hoặc nhân chứng, đe dọa trực tiếp sự an toàn của người có công tố giác tội phạm. Tình tiết thứ năm là hành vi không truy cứu gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vượt ra ngoài phạm vi một vụ án cụ thể.

Nhóm tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 3 Điều 369

Khoản 3 Điều 369 quy định bốn tình tiết định khung đặc biệt tăng nặng, với khung hình phạt cao nhất từ 07 năm đến 12 năm tù. Trước hết là không truy cứu đối với từ 06 người trở lên, phản ánh quy mô bỏ lọt ở mức nghiêm trọng, cho thấy khả năng có sự buông lỏng hoặc bao che mang tính hệ thống. Tiếp theo là không truy cứu đối với người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác, đây là nhóm tội xâm hại trực tiếp lợi ích trọng yếu của Nhà nước và xã hội.

Tình tiết thứ ba là người không bị truy cứu tiếp tục thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, cho thấy việc bỏ lọt đã tạo điều kiện cho tội phạm nguy hiểm hơn xảy ra. Cuối cùng, tình tiết làm người bị hại tự sát là hậu quả nghiêm trọng nhất trong nhóm này, xâm phạm trực tiếp đến quyền sống của con người, đòi hỏi áp dụng mức chế tài tương xứng.

Phân biệt tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội với tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội

Điểm khác biệt về khách thể và mặt khách quan

Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, quy định tại Điều 368 Bộ luật Hình sự, và tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội tại Điều 369 tuy đều thuộc nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp nhưng có bản chất trái ngược nhau. Về khách thể, tội tại Điều 368 trực tiếp xâm phạm danh dự, nhân phẩm, quyền tự do của người bị oan cùng uy tín cơ quan tố tụng, còn tội tại Điều 369 xâm phạm uy tín cơ quan tố tụng thông qua việc bỏ lọt tội phạm, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, xã hội và công dân.

Về mặt khách quan, hành vi tại Điều 368 là hành vi chủ động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người mà chủ thể biết rõ là không có tội, trái với nguyên tắc suy đoán vô tội theo Bộ luật Tố tụng hình sự, thể hiện qua việc ra quyết định khởi tố, kết luận điều tra hoặc truy tố người không phạm tội. Ngược lại, hành vi tại Điều 369 là hành vi không hành động, tức là không truy cứu người mà chủ thể biết rõ là có tội, thể hiện dưới dạng bỏ lọt thông qua việc không khởi tố, không truy tố.

Điểm khác biệt về chủ thể, mặt chủ quan và khung hình phạt

Về chủ thể và mặt chủ quan, cả hai tội danh đều có chủ thể đặc biệt, giới hạn ở người có thẩm quyền trong hoạt động khởi tố bị can, kết luận điều tra và truy tố như Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên, đồng thời phải có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Cả hai tội đều chỉ được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.

Về khung hình phạt, do mức độ nguy hiểm của hai hành vi khác nhau nên mức chế tài cũng khác nhau. Điều 368 quy định ba khung phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, từ 05 năm đến 10 năm và từ 10 năm đến 15 năm, trong khi Điều 369 quy định mức thấp hơn tương ứng, lần lượt là từ 06 tháng đến 03 năm, từ 02 năm đến 07 năm và từ 07 năm đến 12 năm. Cả hai điều luật đều có hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phản ánh quan điểm hành vi truy cứu oan sai người vô tội bị coi là nguy hiểm hơn hành vi bỏ lọt tội phạm.

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và căn cứ miễn trách nhiệm hình sự liên quan

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Việc xác định người có tội để làm căn cứ xử lý tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội còn phải gắn với vấn đề thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 27 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo đó, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do luật định mà khi hết thời hạn đó, người phạm tội sẽ không còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Thời hiệu được quy định tương ứng với từng loại tội phạm, cụ thể là 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng, 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng và 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính kể từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn nêu trên, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội mới trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới; nếu người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã thì thời hiệu được tính lại kể từ khi ra đầu thú hoặc bị bắt giữ. Do đó, khi xem xét trách nhiệm theo Điều 369, cần xác định rõ tại thời điểm không truy cứu, hành vi của người bị bỏ lọt có còn trong thời hiệu hay không, bởi nếu đã hết thời hiệu thì việc không truy cứu không cấu thành tội phạm này.

Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự

Bên cạnh thời hiệu, một yếu tố khác cần xem xét là các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Người phạm tội đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự khi trong quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử có sự thay đổi chính sách, pháp luật khiến hành vi không còn nguy hiểm cho xã hội, hoặc khi có quyết định đại xá.

Ngoài ra, người phạm tội có thể được xem xét miễn trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp khác, như khi có sự chuyển biến của tình hình làm người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội, khi mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến mất khả năng gây nguy hiểm, hoặc khi tự thú trước khi hành vi bị phát giác, khai báo rõ sự việc và có thành tích đặc biệt được ghi nhận. Riêng đối với tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản, nếu người phạm tội đã tự nguyện khắc phục hậu quả và được bị hại tự nguyện hòa giải, đề nghị miễn trách nhiệm hình sự thì cũng có thể được xem xét miễn. Khi một trong các căn cứ nêu trên đã phát sinh trước thời điểm quyết định không truy cứu, thì hành vi đó không cấu thành tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội, vì người bị bỏ lọt đã không còn thuộc diện phải chịu trách nhiệm hình sự.

Một số lưu ý thực tiễn khi áp dụng quy định về tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội

Trường hợp không cấu thành tội phạm

Trong quá trình áp dụng Điều 369, cần phân biệt rõ hành vi cố ý không truy cứu với những sai sót phát sinh do hạn chế về trình độ chuyên môn hoặc nhận thức pháp lý chưa đầy đủ. Nếu người có thẩm quyền không biết rõ người mà mình không truy cứu là người có tội, dù trên thực tế người đó có tội, thì không đủ căn cứ xử lý về tội danh này, mà tùy mức độ có thể xem xét trách nhiệm kỷ luật hoặc trách nhiệm về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo Điều 360 Bộ luật Hình sự nếu có đủ yếu tố cấu thành.

Tương tự, đối với trường hợp Viện kiểm sát hoặc Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung do phát hiện dấu hiệu bỏ lọt người, lọt tội, nhưng Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm không truy cứu, thì việc xác định có cấu thành tội phạm hay không phụ thuộc vào việc chứng minh người có thẩm quyền đã thực sự biết rõ người bị bỏ lọt là có tội, hay chỉ là khác biệt về quan điểm áp dụng pháp luật, đánh giá chứng cứ giữa các cơ quan tố tụng.

Mối liên hệ với các tội danh khác trong nhóm xâm phạm hoạt động tư pháp

Trường hợp người có thẩm quyền không chỉ đơn thuần không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội mà còn có hành vi rút bớt, thêm vào hồ sơ vụ án những tài liệu nhằm tạo căn cứ giả cho việc đình chỉ vụ án, hoặc sửa chữa tài liệu trong hồ sơ để hợp thức hóa việc bỏ lọt tội phạm, thì hành vi này cấu thành tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc theo quy định tại Điều 375 Bộ luật Hình sự. Đây là tội danh độc lập, có mức độ nguy hiểm cao hơn và mức hình phạt nghiêm khắc hơn so với tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội, do đó khi có đủ căn cứ về hành vi làm sai lệch hồ sơ, cơ quan tố tụng cần xem xét xử lý theo tội danh phù hợp với bản chất hành vi đã thực hiện.

Ngoài ra, đối với người quyết định không khởi tố, không phê chuẩn hoặc không truy tố nhưng bản thân không trực tiếp biết rõ người đó có tội mà chỉ dựa trên báo cáo sai lệch của cấp dưới, thì trách nhiệm hình sự về tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội thường không đặt ra đối với người quyết định, mà tùy mức độ có thể xem xét trách nhiệm về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng nếu hậu quả xảy ra đáng kể. Việc phân định rõ trách nhiệm giữa các chủ thể tham gia tố tụng bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội, tránh oan sai và không bỏ lọt vi phạm.

Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là chế định pháp lý quan trọng nhằm ràng buộc trách nhiệm của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng, bảo đảm mọi tội phạm đều được xử lý nghiêm minh, không để lọt người, lọt tội. Điều luật xây dựng cấu thành chặt chẽ với dấu hiệu bắt buộc là chủ thể phải biết rõ người không bị truy cứu là người có tội, đồng thời quy định ba khung hình phạt cùng hình phạt bổ sung nhằm ngăn ngừa tái phạm. Việc nắm vững quy định này giúp người có thẩm quyền nâng cao trách nhiệm, đồng thời giúp người dân hiểu rõ quyền được bảo vệ khi phát hiện dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Trường hợp cần tư vấn cụ thể hơn, quý khách hàng có thể liên hệ đơn vị tư vấn pháp lý uy tín để được hỗ trợ.

Hãng Luật Thủ Đức Sài Gòn

  • Số 01 đường số 2, Phường Linh Chiểu, TP. Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh
  • Số điện thoại: 0937.218.686
  • Email: luatsunguyenhuungoc@gmail.com
Đánh giá post
Luat-su-dat-dai-Nguyen-Huu-Ngoc

Tác giả

Luật sư Nguyễn Hữu Ngọc

Luật sư Nguyễn Hữu Ngọc với hơn 5 năm kinh nghiệm hành nghề trong nhiều lĩnh vực pháp lý. Ông có chuyên môn sâu về tư vấn doanh nghiệp, tranh chấp đất đai, hôn nhân gia đình và giải quyết tranh chấp dân sự. Với phương châm đặt quyền lợi khách hàng lên hàng đầu, Luật sư Nguyễn Hữu Ngọc luôn nỗ lực cung cấp giải pháp pháp lý tối ưu, rõ ràng và hiệu quả cho từng trường hợp cụ thể.

Bài Viết Liên Quan