Trách nhiệm hình sự là gì là câu hỏi được nhiều người đặt ra khi tìm hiểu về hậu quả pháp lý của hành vi phạm tội theo pháp luật Việt Nam. Đây là chế định trung tâm của pháp luật hình sự, gắn với việc bảo vệ trật tự, an toàn xã hội và quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Không phải mọi hành vi gây thiệt hại đều bị coi là tội phạm, và không phải ai thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng đương nhiên phải gánh chịu trách nhiệm hình sự trước Nhà nước. Việc xác định trách nhiệm này phụ thuộc vào độ tuổi, năng lực nhận thức và tính chất của hành vi. Bài viết dưới đây phân tích khái niệm, đặc điểm, cơ sở pháp lý, độ tuổi chịu trách nhiệm và các trường hợp loại trừ, miễn trách nhiệm hình sự theo quy định hiện hành.
Trách nhiệm hình sự là gì theo quy định pháp luật
Định nghĩa trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà cá nhân hoặc pháp nhân thương mại phải gánh chịu trước Nhà nước do đã thực hiện hành vi bị coi là tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự. Hậu quả này thể hiện qua việc người phạm tội bị truy cứu, bị kết tội và phải chịu hình phạt hoặc các biện pháp cưỡng chế hình sự khác do bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án tuyên.
Nói cách khác, trách nhiệm hình sự bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu các biện pháp cưỡng chế như hình phạt, biện pháp tư pháp và mang án tích. Chỉ Nhà nước, thông qua các cơ quan tiến hành tố tụng và Tòa án, mới có quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội; người phạm tội chịu trách nhiệm trước Nhà nước và xã hội chứ không phải trước một cá nhân hay tổ chức cụ thể nào bị thiệt hại.
Bản chất pháp lý của trách nhiệm hình sự
Về bản chất, trách nhiệm hình sự phản ánh sự lên án chính thức của Nhà nước đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội. Quan hệ pháp luật hình sự phát sinh giữa hai chủ thể là Nhà nước và người phạm tội, trong đó Nhà nước có quyền áp dụng chế tài hình sự còn người phạm tội có nghĩa vụ phải gánh chịu hậu quả pháp lý tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi đã thực hiện. Ban đầu, chủ thể chịu trách nhiệm hình sự chỉ là cá nhân, nhưng kể từ khi Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực, pháp nhân thương mại cũng trở thành chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự đối với một số tội danh nhất định.
Đặc điểm của trách nhiệm hình sự
Là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm
Theo khoản 1 Điều 2 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025, chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra khi có một tội phạm cụ thể được thực hiện, và việc thực hiện tội phạm chính là sự kiện pháp lý làm phát sinh trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm hình sự tồn tại một cách khách quan kể từ thời điểm tội phạm được thực hiện, không phụ thuộc vào việc cơ quan có thẩm quyền đã phát hiện được tội phạm và người phạm tội hay chưa.
Là trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất
Trong hệ thống trách nhiệm pháp lý gồm trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự và trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hình sự được xem là loại nghiêm khắc nhất. Tính nghiêm khắc thể hiện ở chỗ người phạm tội bị Tòa án kết án, phải chấp hành hình phạt, các biện pháp tư pháp và mang án tích. Hình phạt là biện pháp cưỡng chế chủ yếu của luật hình sự, có thể hạn chế quyền tự do, quyền tài sản, quyền chính trị, thậm chí tước bỏ quyền sống của người phạm tội trong những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.

Là trách nhiệm cá nhân, pháp nhân trước Nhà nước
Trách nhiệm hình sự mang tính cá nhân rõ nét, người phạm tội phải tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình, thân nhân của họ không phải cùng chịu trách nhiệm hình sự. Đồng thời, trách nhiệm hình sự mang tính công quyền, chỉ Nhà nước mới có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự, người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự trực tiếp trước cá nhân, tổ chức bị thiệt hại mà phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước và xã hội nói chung.
Được xác định theo trình tự tố tụng hình sự chặt chẽ
Việc xác định trách nhiệm hình sự không được tùy tiện mà phải tuân theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, thông qua các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử. Kết quả xác định trách nhiệm hình sự chỉ được ghi nhận chính thức trong bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Trình tự chặt chẽ này nhằm hạn chế oan sai và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong quá trình tố tụng hình sự.
Cơ sở pháp lý phát sinh trách nhiệm hình sự
Văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh
Cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự hiện nay được quy định tập trung tại Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14 và Luật số 86/2025/QH15, có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2025. Song song đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 99/2025/QH15 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2025), quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự được thực hiện đúng pháp luật. Ngoài ra, các nghị quyết hướng dẫn áp dụng pháp luật của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng góp phần bảo đảm việc áp dụng thống nhất các quy định về trách nhiệm hình sự trong thực tiễn xét xử.
Cấu thành tội phạm là điều kiện cần và đủ
Theo Điều 2 Bộ luật Hình sự, chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự; chỉ pháp nhân thương mại phạm một trong các tội được liệt kê cụ thể tại Bộ luật Hình sự mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, cấu thành tội phạm chính là cơ sở pháp lý duy nhất của trách nhiệm hình sự. Một hành vi chỉ được coi là tội phạm và người thực hiện hành vi đó chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi hành vi thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật Hình sự, bao gồm dấu hiệu về chủ thể, khách thể, mặt chủ quan và mặt khách quan của tội phạm.
Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định cụ thể về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, làm căn cứ để xác định một người có đủ điều kiện bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không. Cụ thể như sau:
- Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật Hình sự có quy định khác (ví dụ một số tội danh chỉ áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên).
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại một trong các điều luật cụ thể của Bộ luật Hình sự, không áp dụng chung cho mọi tội rất nghiêm trọng do cố ý.
- Người chưa đủ 14 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự trong bất kỳ trường hợp nào, vì ở độ tuổi này con người chưa phát triển đầy đủ về mặt tâm sinh lý, chưa có đủ khả năng nhận thức được đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mình thực hiện, nên hành vi của họ chưa thỏa mãn dấu hiệu lỗi và không cấu thành tội phạm.
Bên cạnh đó, một số tội danh đòi hỏi người phạm tội phải đủ 18 tuổi trở lên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chẳng hạn tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm và tội mua dâm người dưới 18 tuổi.
Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại
Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự với pháp nhân
Bộ luật Hình sự năm 2015 lần đầu tiên bổ sung pháp nhân thương mại là chủ thể có thể phải chịu trách nhiệm hình sự, bên cạnh chủ thể truyền thống là cá nhân. Tuy nhiên, không phải mọi tội danh đều áp dụng đối với pháp nhân thương mại mà chỉ giới hạn ở một số tội danh được liệt kê cụ thể, chủ yếu thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường và một số tội danh khác. Để một pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội cần đáp ứng đồng thời các điều kiện sau.
- Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại.
- Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại.
- Hành vi phạm tội có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại.
- Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Ý nghĩa của việc quy định trách nhiệm hình sự với pháp nhân
Việc bổ sung pháp nhân thương mại là chủ thể chịu trách nhiệm hình sự phù hợp với xu hướng chung của pháp luật quốc tế, đồng thời giúp cơ quan chức năng xử lý hiệu quả hơn các hành vi vi phạm có tổ chức trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt là các tội liên quan đến trốn thuế, buôn lậu và gây ô nhiễm môi trường. Khi bị truy cứu trách nhiệm hình sự, pháp nhân thương mại có thể phải chịu các hình phạt như phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn, tùy theo tính chất và mức độ của hành vi phạm tội.
Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự
Chương IV Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định bảy trường hợp được coi là loại trừ trách nhiệm hình sự. Đây là những trường hợp tuy có gây ra thiệt hại cho xã hội nhưng do những điều kiện đặc biệt nên hành vi không bị coi là tội phạm và người thực hiện hành vi không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Sự kiện bất ngờ và tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự
Theo Điều 20 Bộ luật Hình sự, người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó thì không phải chịu trách nhiệm hình sự, đây được gọi là sự kiện bất ngờ. Bên cạnh đó, theo Điều 21 Bộ luật Hình sự, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự do không có năng lực trách nhiệm hình sự tại thời điểm thực hiện hành vi.
Phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết
Điều 22 Bộ luật Hình sự quy định phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết đối với người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm. Tương tự, Điều 23 Bộ luật Hình sự quy định tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước mà không còn cách nào khác ngoài việc phải gây ra một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không bị coi là tội phạm.

Gây thiệt hại khi bắt giữ người phạm tội và rủi ro trong nghiên cứu khoa học
Theo Điều 24 Bộ luật Hình sự, hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác ngoài việc buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không bị coi là tội phạm. Ngoài ra, Điều 25 Bộ luật Hình sự quy định hành vi gây thiệt hại trong khi nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới, nếu đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm và áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa cần thiết, thì cũng không bị coi là tội phạm.
Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên
Theo Điều 26 Bộ luật Hình sự, người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh thì không phải chịu trách nhiệm hình sự, nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo mà người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành; trong trường hợp này, người ra mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm hình sự. Quy định này không áp dụng đối với các tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược, chống loài người và tội phạm chiến tranh trong trường hợp do bị ép buộc hoặc do thi hành mệnh lệnh của cấp trên.
Miễn trách nhiệm hình sự khác gì với loại trừ trách nhiệm hình sự
Miễn trách nhiệm hình sự bắt buộc
Khác với các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, nơi hành vi được thực hiện ngay từ đầu không bị coi là tội phạm, miễn trách nhiệm hình sự áp dụng đối với trường hợp hành vi đã cấu thành tội phạm nhưng người phạm tội được Nhà nước khoan hồng, không buộc phải chịu hậu quả pháp lý hình sự. Theo Điều 29 Bộ luật Hình sự, trường hợp miễn trách nhiệm hình sự bắt buộc được áp dụng khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, hoặc khi có quyết định đại xá.
Miễn trách nhiệm hình sự tùy nghi
Bên cạnh trường hợp bắt buộc, Điều 29 Bộ luật Hình sự còn quy định các trường hợp người phạm tội có thể được xem xét miễn trách nhiệm hình sự, tùy thuộc vào đánh giá của cơ quan tiến hành tố tụng, bao gồm trường hợp khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, khi người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội, hoặc khi người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
Thời điểm phát sinh và chấm dứt trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm hình sự phát sinh ngay từ thời điểm tội phạm được thực hiện, bởi lẽ chính hành vi phạm tội là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật hình sự giữa Nhà nước và người phạm tội. Tuy nhiên, quan hệ này chỉ được cụ thể hóa và thực hiện khi các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện được tội phạm, xác định được người phạm tội và Tòa án ra bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật.
Trách nhiệm hình sự chấm dứt khi thuộc một trong các trường hợp sau đây, người phạm tội đã chấp hành xong hình phạt chính và hình phạt bổ sung nếu có, người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, có quyết định đặc xá hoặc đại xá của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã hết thời hiệu thi hành bản án theo quy định của Bộ luật Hình sự.
So sánh trách nhiệm hình sự với trách nhiệm dân sự và hành chính
Để hiểu rõ hơn bản chất riêng biệt của trách nhiệm hình sự, việc so sánh với trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hành chính là cần thiết. Bảng dưới đây thể hiện những điểm khác biệt cơ bản giữa ba loại trách nhiệm pháp lý này.
| Tiêu chí | Trách nhiệm hình sự | Trách nhiệm dân sự | Trách nhiệm hành chính |
| Căn cứ phát sinh | Hành vi phạm tội thỏa mãn cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự | Hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự hoặc gây thiệt hại ngoài hợp đồng | Hành vi vi phạm hành chính, chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự |
| Cơ quan áp dụng | Tòa án nhân danh Nhà nước, thông qua các cơ quan tiến hành tố tụng | Tòa án hoặc các bên tự thỏa thuận | Cơ quan quản lý nhà nước, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính |
| Mục đích | Trừng trị, giáo dục, phòng ngừa tội phạm và răn đe chung | Khôi phục tình trạng ban đầu, bồi thường thiệt hại cho bên bị hại | Xử phạt vi phạm, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật |
| Hình thức xử lý | Hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp và án tích | Buộc bồi thường thiệt hại, xin lỗi, cải chính công khai | Cảnh cáo, phạt tiền, tước quyền sử dụng giấy phép, buộc khắc phục hậu quả |
Trách nhiệm hình sự chỉ phát sinh khi hành vi thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể theo quy định của Bộ luật Hình sự, và chỉ được xác định chính thức thông qua bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Trách nhiệm hình sự là gì đã được phân tích qua các nội dung nêu trên, từ khái niệm, đặc điểm, cơ sở pháp lý cho đến độ tuổi chịu trách nhiệm và các trường hợp loại trừ, miễn trách nhiệm hình sự. Đây là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất, chỉ phát sinh khi có đầy đủ căn cứ cấu thành tội phạm và do Tòa án nhân danh Nhà nước xác định thông qua bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, pháp luật hình sự Việt Nam cũng thể hiện tính nhân đạo khi quy định các trường hợp loại trừ, miễn trách nhiệm hình sự, tạo điều kiện cho người vi phạm có cơ hội sửa chữa, cải tạo. Nếu còn vướng mắc trong việc xác định trách nhiệm hình sự với một vụ việc cụ thể hoặc cần tư vấn pháp lý hình sự, quý khách có thể liên hệ đội ngũ luật sư để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời.
Hãng Luật Thủ Đức Sài Gòn
- Số 01 đường số 2, Phường Linh Chiểu, TP. Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh
- Số điện thoại: 0937.218.686
- Email: luatsunguyenhuungoc@gmail.com
