Quy định về khởi tố vụ án hình sự là nền tảng pháp lý để cơ quan có thẩm quyền phát động toàn bộ quá trình điều tra, xử lý người thực hiện hành vi phạm tội. Không phải mọi tố giác, tin báo đều dẫn đến việc khởi tố; chỉ khi xác định có dấu hiệu tội phạm, cơ quan chức năng mới được ra quyết định khởi tố theo đúng trình tự luật định. Bài viết dưới đây phân tích cụ thể căn cứ, thẩm quyền, thủ tục khởi tố, những trường hợp không được khởi tố, việc khởi tố theo yêu cầu của bị hại cũng như việc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định hiện hành giúp bạn đọc hình dung đầy đủ hơn về vấn đề này.
Khởi tố vụ án hình sự là gì?
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của quá trình tố tụng hình sự, tại đó cơ quan có thẩm quyền chính thức xác nhận có dấu hiệu tội phạm xảy ra và cần được điều tra, xử lý theo pháp luật. Đây là cơ sở pháp lý bắt buộc để các cơ quan tiến hành tố tụng được phép áp dụng các biện pháp điều tra, thu thập chứng cứ nhằm làm rõ hành vi phạm tội cũng như người thực hiện hành vi đó.
Theo Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm phải dựa trên những căn cứ do pháp luật quy định, không được khởi tố một cách tùy tiện, thiếu căn cứ.
Như vậy, khởi tố vụ án hình sự không phải là thủ tục hành chính đơn thuần mà mang tính pháp lý chặt chẽ, đòi hỏi phải có căn cứ rõ ràng, đúng thẩm quyền và tuân thủ trình tự do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
Căn cứ khởi tố vụ án hình sự
Căn cứ theo Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, việc xác định dấu hiệu tội phạm để làm căn cứ khởi tố vụ án hình sự dựa trên một trong những nguồn thông tin sau đây:
- Tố giác của cá nhân;
- Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
- Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;
- Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;
- Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;
- Người phạm tội tự thú.
Sau khi tiếp nhận một trong các nguồn tin nêu trên, cơ quan có thẩm quyền không được khởi tố ngay mà phải tiến hành kiểm tra, xác minh để xác định thực sự có dấu hiệu tội phạm hay không. Việc kiểm tra, xác minh này được thực hiện theo trình tự, thời hạn cụ thể do pháp luật quy định, nhằm bảo đảm việc khởi tố diễn ra đúng người, đúng tội, tránh oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm.
Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
Thời hạn kiểm tra, xác minh nguồn tin
Theo Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định sau:
- Quyết định khởi tố vụ án hình sự;
- Quyết định không khởi tố vụ án hình sự;
- Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
Trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải xác minh tại nhiều địa điểm, thời hạn giải quyết có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng. Nếu hết thời hạn này mà vẫn chưa thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền có thể gia hạn thêm một lần, tối đa không quá 02 tháng. Chậm nhất 05 ngày trước khi hết thời hạn xác minh, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn nếu xét thấy cần thiết.
Các hoạt động được tiến hành trong quá trình xác minh nguồn tin
Trong quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền được phép tiến hành một số hoạt động nghiệp vụ nhằm thu thập tài liệu, chứng cứ ban đầu, cụ thể gồm việc thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; khám nghiệm hiện trường; khám nghiệm tử thi; trưng cầu giám định hoặc yêu cầu định giá tài sản. Sau khi kết thúc việc xác minh mà xác định có dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm quyền trong phạm vi trách nhiệm của mình sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự để chuyển sang giai đoạn điều tra.
Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự
Thẩm quyền của Cơ quan điều tra và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Theo Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Cơ quan điều tra có quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả các vụ việc có dấu hiệu tội phạm, ngoại trừ những vụ việc do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát hoặc Hội đồng xét xử đang thụ lý, giải quyết. Bên cạnh đó, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng có quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong phạm vi quy định tại Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Thẩm quyền của Viện kiểm sát và Hội đồng xét xử
Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong các trường hợp: hủy bỏ quyết định không khởi tố của Cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; hoặc trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm, kể cả khi có yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử. Riêng Hội đồng xét xử có quyền yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua quá trình xét xử tại phiên tòa phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm.
Quyết định khởi tố vụ án hình sự
Nội dung của quyết định khởi tố vụ án hình sự
Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải ghi rõ căn cứ khởi tố, điều khoản của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14, Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15 và Luật số 86/2025/QH15), sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự, được áp dụng, đồng thời phải thể hiện đầy đủ các nội dung như số, ngày, tháng, năm, địa điểm ban hành văn bản tố tụng; căn cứ ban hành văn bản tố tụng; nội dung của văn bản tố tụng; họ tên, chức vụ và chữ ký của người ban hành văn bản, có đóng dấu của cơ quan ban hành. Đây là những yêu cầu bắt buộc nhằm bảo đảm giá trị pháp lý của quyết định khởi tố, làm căn cứ cho toàn bộ hoạt động điều tra tiếp theo.
Thời hạn gửi quyết định khởi tố vụ án hình sự
Theo điều 154 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2024, 2025), trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự: nếu Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố thì phải gửi quyết định đó đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiến hành điều tra; nếu Cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định thì phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát việc khởi tố.
Các trường hợp không được khởi tố vụ án hình sự
Theo Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người có thẩm quyền không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây; nếu vụ án đã được khởi tố thì phải ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố và thông báo rõ lý do cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố biết:
- Không có sự việc phạm tội;
- Hành vi không cấu thành tội phạm;
- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
- Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
- Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Tội phạm đã được đại xá;
- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;
- Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 Bộ luật Hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.
Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) quy định một số tội danh chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, hoặc bị hại đã chết. Đây là những tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 Bộ luật Hình sự.
Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, vụ án phải được đình chỉ, trừ khi có căn cứ xác định việc rút yêu cầu là trái với ý muốn của bị hại do bị ép buộc, cưỡng bức thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp việc rút yêu cầu trước đó là do bị ép buộc, cưỡng bức.
Thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự
Trường hợp thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố
Theo khoản 1 Điều 156 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra trên thực tế. Đồng thời, các cơ quan này ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự khi có căn cứ xác định còn tội phạm khác chưa được khởi tố.
Trình tự thực hiện việc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố
Việc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư liên tịch số 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (thay thế Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP). Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố cùng tài liệu liên quan của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải xem xét, xử lý theo hướng: nếu chưa rõ căn cứ thì có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung chứng cứ, tài liệu để làm rõ; nếu xét thấy quyết định đó không có căn cứ thì có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ, trường hợp Cơ quan điều tra không nhất trí thì Viện kiểm sát tự ra quyết định hủy bỏ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 161 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Khi có căn cứ để thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố, Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu; chậm nhất 03 ngày kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, Cơ quan điều tra phải ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung tương ứng. Nếu Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự. Riêng trường hợp qua điều tra chỉ xác định được hành vi của bị can phạm vào khoản khác của cùng tội danh đã khởi tố thì không cần phải thay đổi quyết định khởi tố.
Khởi tố vụ án, khởi tố bị can khi bị can phạm nhiều tội hoặc có nhiều hành vi phạm tội
Trường hợp nhiều hành vi phạm tội nhưng cùng một tội danh
Theo khoản 6 Điều 9 Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP, nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội nhưng cùng một tội danh và bị phát hiện cùng một thời điểm, cơ quan có thẩm quyền chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự và một quyết định khởi tố bị can đối với toàn bộ các lần phạm tội đó. Ví dụ, nếu Cơ quan điều tra làm rõ một người đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản trong cùng một địa bàn, chỉ cần ra một quyết định khởi tố vụ án và một quyết định khởi tố bị can về tội trộm cắp tài sản cho tất cả các lần phạm tội đã phát hiện. Nếu trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan chức năng phát hiện bị can còn thực hiện thêm hành vi phạm tội cùng tội danh mà chưa bị khởi tố thì phải ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi mới phát hiện đó.
Trường hợp nhiều hành vi phạm tội thuộc nhiều tội danh khác nhau
Nếu tại cùng một thời điểm, một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau và bị phát hiện cùng lúc, cơ quan có thẩm quyền cũng chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án và một quyết định khởi tố bị can, trong đó ghi rõ từng tội danh cùng điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng cho mỗi hành vi. Nguyên tắc này cũng áp dụng khi hành vi phạm tội trước là tiền đề để thực hiện hành vi phạm tội sau, hoặc các hành vi phạm tội có mối liên hệ mật thiết với nhau, chẳng hạn một người làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 Bộ luật Hình sự để phục vụ cho hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Trường hợp khởi tố bị can về nhiều tội mà trong đó có tội thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp trên, theo điểm đ khoản 6 Điều 9 Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP, Cơ quan điều tra cấp dưới phải trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát có thẩm quyền để chuyển toàn bộ vụ án lên Cơ quan điều tra cấp trên tiến hành điều tra. Còn theo điểm e khoản 6 Điều 9 của Thông tư này, nếu các tội danh thuộc thẩm quyền điều tra khác nhau giữa Cơ quan An ninh điều tra và Cơ quan Cảnh sát điều tra mà việc tách vụ án sẽ ảnh hưởng đến tính khách quan, toàn diện của vụ án, Cơ quan điều tra đang thụ lý phải trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát có thẩm quyền để xác định tội phạm chính, từ đó giao cho cơ quan có thẩm quyền điều tra đối với tội phạm chính đó tiến hành điều tra toàn bộ vụ án.
Ngoài các quy định nêu trên, Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP còn hướng dẫn cụ thể việc phối hợp thay đổi người tiến hành tố tụng giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong trường hợp Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc Điều tra viên thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi theo Điều 49, Điều 51, Điều 52 Bộ luật Tố tụng hình sự, nhằm bảo đảm việc khởi tố, điều tra vụ án được thực hiện khách quan, đúng thẩm quyền ngay từ giai đoạn đầu tiên của tố tụng hình sự.
Quy định về khởi tố vụ án hình sự được xây dựng chặt chẽ nhằm bảo đảm việc xử lý tội phạm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh oan sai và không bỏ lọt tội phạm. Từ căn cứ, thẩm quyền, nội dung, thời hạn gửi quyết định khởi tố cho đến các trường hợp không được khởi tố, khởi tố theo yêu cầu của bị hại hay việc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố, mỗi bước đều được pháp luật quy định cụ thể. Việc nắm vững những quy định này giúp người dân hiểu rõ quyền, nghĩa vụ của mình khi liên quan đến một vụ án hình sự. Nếu còn vướng mắc, bạn đọc nên tham khảo ý kiến luật sư hoặc cơ quan có thẩm quyền để được hướng dẫn, giải quyết kịp thời, đúng quy định.
Hãng Luật Thủ Đức Sài Gòn
- Số 01 đường số 2, Phường Linh Chiểu, TP. Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh
- Số điện thoại: 0937.218.686
- Email: luatsunguyenhuungoc@gmail.com
