Khi nào cần thuê luật sư ly hôn là câu hỏi nhiều người đặt ra trước khi nộp đơn lên Tòa án. Pháp luật không buộc đương sự phải mời luật sư, nhưng vụ việc có tranh chấp con chung, tài sản chung, đối phương né tránh Tòa án hoặc có yếu tố nước ngoài thường đòi hỏi kiến thức tố tụng và chứng cứ đầy đủ. Quyết định tự làm hồ sơ hay nhờ luật sư cần dựa trên mức độ phức tạp của vụ việc, không chỉ dựa vào chi phí ban đầu. Bài viết phân tích các tình huống nên có luật sư đồng hành và giới hạn ủy quyền mà đương sự cần biết. Nội dung do Hãng Luật Thủ Đức Sài Gòn biên soạn, đối chiếu với Luật Hôn nhân và Gia đình và Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành.
Ly hôn có bắt buộc phải thuê luật sư không?
Pháp luật không bắt buộc vợ chồng phải thuê luật sư khi ly hôn. Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình trao cho vợ, chồng hoặc cả hai người quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Khoản 2 Điều 75 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định luật sư tham gia tố tụng với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, khi có yêu cầu của đương sự và được Tòa án làm thủ tục đăng ký.
Như vậy, việc mời luật sư là quyền lựa chọn của đương sự chứ không phải điều kiện để Tòa án thụ lý vụ việc. Quyền lựa chọn ấy đi kèm trách nhiệm cân nhắc, vì vụ việc đơn giản có thể tự hoàn tất, còn vụ việc nhiều tranh chấp thì nguy cơ thiếu chứng cứ, sai thủ tục hoặc bỏ lỡ quyền lợi tăng lên đáng kể.
Khi nào có thể tự làm hồ sơ ly hôn?
Trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn là tình huống phù hợp để tự thực hiện. Theo Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án công nhận thuận tình ly hôn khi xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con.
Nếu hai bên không thỏa thuận được, hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con, Tòa án sẽ giải quyết việc ly hôn thay vì công nhận thuận tình. Bản thỏa thuận về con và tài sản vì vậy cần được soạn rõ ràng, đầy đủ ngay cả khi cả hai bên đều mong muốn chấm dứt hôn nhân.
Khi nào cần thuê luật sư ly hôn?
Luật sư thật sự cần thiết khi vụ việc phát sinh tranh chấp hoặc khi bạn không thể tự theo dõi toàn bộ tiến trình tố tụng. Năm nhóm tình huống dưới đây đều gắn với quy định cụ thể của pháp luật và thường làm vụ việc phức tạp hơn so với ly hôn thuận tình.
Khi hai bên tranh chấp quyền nuôi con và cấp dưỡng
Khi vợ chồng không thỏa thuận được về người trực tiếp nuôi con, Tòa án quyết định giao con cho một bên căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên, Tòa án phải xem xét nguyện vọng của con. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con theo khoản 3 cùng điều.
Cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khoản 2 Điều 82, và các tranh chấp về nuôi con, cấp dưỡng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 và khoản 5 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Luật sư giúp bạn đánh giá khả năng được giao nuôi con, chuẩn bị tài liệu chứng minh điều kiện chăm sóc, giáo dục con và trình bày quan điểm trước Tòa án một cách có hệ thống.

Khi có tranh chấp về tài sản chung và tài sản riêng
Với chế độ tài sản theo luật định, khoản 1 Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án giải quyết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng. Với chế độ tài sản theo thỏa thuận, việc giải quyết áp dụng theo thỏa thuận đó, còn phần thỏa thuận chưa đầy đủ, rõ ràng sẽ áp dụng các quy định tương ứng của luật.
Tài sản chung được chia đôi nhưng có tính đến hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng, công sức đóng góp, việc bảo vệ lợi ích chính đáng trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp, cùng lỗi của mỗi bên theo khoản 2 Điều 59. Tài sản riêng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp đã nhập vào tài sản chung theo khoản 4. Khi vợ chồng có nhà đất hoặc phần vốn góp kinh doanh, việc chứng minh nguồn gốc và công sức đóng góp cần chứng cứ cụ thể, và đây là lúc luật sư phát huy vai trò rõ rệt.
Khi đối phương không hợp tác hoặc cố tình né tránh Tòa án
Khi hòa giải tại Tòa án không thành, Tòa án chỉ giải quyết cho ly hôn theo yêu cầu của một bên nếu có căn cứ theo khoản 1 Điều 56. Căn cứ đó là hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Người khởi kiện vì vậy phải cung cấp chứng cứ cho các căn cứ này, đặc biệt khi đối phương không thừa nhận.
Nếu bị đơn trốn tránh việc nhận văn bản tố tụng, Tòa án niêm yết công khai theo Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự khi không thể cấp, tống đạt hoặc thông báo trực tiếp, với thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết. Sau lần triệu tập hợp lệ thứ hai, bị đơn không có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện thì Tòa án xét xử vắng mặt, theo điểm b khoản 2 Điều 227.
Ngược lại, nguyên đơn vắng mặt lần thứ hai mà không có người đại diện và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nếu không do bất khả kháng hay trở ngại khách quan, thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện. Tòa án khi đó đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm a khoản 2 Điều 227. Luật sư giúp bạn theo dõi các mốc tố tụng này để quyền lợi không bị ảnh hưởng chỉ vì sơ suất về thủ tục.
Khi vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài
Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, hoặc giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo khoản 1 Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình. Khi bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn, việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu không có nơi thường trú chung thì áp dụng pháp luật Việt Nam theo khoản 2. Bất động sản ở nước ngoài tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản theo khoản 3.
Về thẩm quyền, điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định Tòa án Việt Nam có thẩm quyền với vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam, hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam. Điểm b khoản 1 Điều 470 còn quy định thẩm quyền riêng biệt đối với vụ ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam. Các thủ tục xác định địa chỉ, tống đạt văn bản và thu thập chứng cứ ở nước ngoài tại các điều 473, 474 và 475 làm vụ việc phức tạp hơn đáng kể, nên sự hỗ trợ của luật sư có giá trị thực tế.
Khi quyền yêu cầu ly hôn bị giới hạn hoặc thuộc trường hợp đặc biệt
Khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định chồng không có quyền yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Giới hạn ấy khiến việc xác định đúng thời điểm và tư cách người khởi kiện trở thành bước cần kiểm tra kỹ trước khi nộp đơn.
Khoản 2 Điều 51 cho phép cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn trong một trường hợp đặc biệt. Đó là khi một bên vợ, chồng do bệnh tâm thần hoặc bệnh khác không thể nhận thức, làm chủ được hành vi, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do người kia gây ra, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần. Khoản 3 Điều 56 yêu cầu Tòa án xét căn cứ bạo lực gia đình trong trường hợp này, còn khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định cha, mẹ, người thân thích yêu cầu là người đại diện. Nhóm vụ việc ấy đòi hỏi chứng cứ chặt chẽ và cách lập luận chuẩn xác.
Luật sư tham gia vụ án ly hôn với tư cách và quyền hạn gì?
Luật sư tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo điểm a khoản 2 Điều 75 Bộ luật Tố tụng dân sự, và phải xuất trình các giấy tờ theo quy định của Luật Luật sư khi đăng ký với Tòa án. Điều 76 cho phép người bảo vệ tham gia tố tụng từ khi khởi kiện hoặc bất cứ giai đoạn nào, thu thập và cung cấp chứng cứ cho Tòa án, nghiên cứu hồ sơ và ghi chép, sao chụp tài liệu cần thiết. Người bảo vệ còn tham gia hòa giải, phiên họp, phiên tòa, hoặc gửi văn bản bảo vệ cho Tòa án khi không tham gia, đồng thời giúp đương sự về mặt pháp lý.
Cần lưu ý khoản 4 Điều 85 quy định đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Luật sư vì vậy đồng hành và bảo vệ quyền lợi bên cạnh đương sự, chứ không thay thế đương sự khi Tòa án triệu tập. Nếu được ủy quyền, luật sư thay mặt đương sự nhận giấy tờ, văn bản tố tụng do Tòa án tống đạt hoặc thông báo và có trách nhiệm chuyển cho đương sự theo khoản 5 Điều 76.
Nên chuẩn bị những gì trước khi làm việc với luật sư ly hôn?
Bạn nên tập hợp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, giấy tờ tùy thân, giấy khai sinh của con, giấy tờ liên quan đến nhà đất, tài khoản, phương tiện và các tài liệu chứng minh hành vi vi phạm của đối phương nếu có. Tài liệu càng rõ ràng thì luật sư càng nhanh chóng đánh giá được hướng giải quyết và mức độ tranh chấp của vụ việc.
Bạn cũng cần xác định Tòa án có thẩm quyền. Tòa án nhân dân khu vực giải quyết sơ thẩm các tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, thường là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc theo điểm a khoản 1 Điều 39. Các đương sự cũng có quyền thỏa thuận bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn giải quyết theo điểm b khoản 1 Điều 39, nên thỏa thuận ấy cần được xem xét trước khi nộp đơn.
Câu hỏi thường gặp
Thuê luật sư ly hôn có cần phải ra Tòa không?
Luật sư có quyền tham gia hòa giải, phiên họp, phiên tòa hoặc gửi văn bản bảo vệ quyền lợi cho Tòa án theo khoản 3 Điều 76 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, đương sự không được ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng ly hôn, nên bạn vẫn cần có mặt khi được triệu tập hợp lệ, trừ trường hợp có đơn đề nghị xét xử vắng mặt theo Điều 227.
Thuê luật sư ly hôn có giúp giải quyết nhanh hơn không?
Tiến độ vụ án do Tòa án điều hành theo các thời hạn tố tụng, nên luật sư không quyết định được thời gian giải quyết. Luật sư hỗ trợ bằng cách giúp hồ sơ và chứng cứ đầy đủ ngay từ đầu, từ đó hạn chế việc phải bổ sung hoặc sửa chữa trong quá trình giải quyết.
Luật sư có thể nhận văn bản tố tụng của Tòa án thay tôi không?
Có thể, nếu bạn ủy quyền cho luật sư. Khoản 5 Điều 76 Bộ luật Tố tụng dân sự cho phép người bảo vệ được đương sự ủy quyền thay mặt nhận giấy tờ, văn bản tố tụng do Tòa án tống đạt hoặc thông báo và chuyển cho đương sự.
Kết luận
Khi nào cần thuê luật sư ly hôn phụ thuộc vào mức độ tranh chấp, thái độ hợp tác của đối phương và các yếu tố đặc thù như con nhỏ hoặc yếu tố nước ngoài. Vụ việc thuận tình với thỏa thuận rõ ràng có thể tự thực hiện, còn vụ việc có tranh chấp con chung, tài sản, đối phương né tránh hoặc có yếu tố nước ngoài thì luật sư giúp bạn nắm đúng quy định và chuẩn bị chứng cứ đầy đủ. Luật sư đồng hành bên cạnh bạn, còn việc tham gia tố tụng vẫn là trách nhiệm của chính đương sự.
Thông tin liên hệ: Hãng Luật Thủ Đức Sài Gòn.
- Địa chỉ: Số 01 đường số 2, phường Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Điện thoại: 0937.218.686.
- Email: luatsunguyenhuungoc@gmail.com.
