Tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng là nội dung được pháp luật hôn nhân và gia đình quy định rõ nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mỗi bên trong thời kỳ hôn nhân. Trên thực tế, nhiều cặp vợ chồng vẫn nhầm lẫn giữa hai loại tài sản này, dẫn đến tranh chấp khi phát sinh mâu thuẫn hoặc khi ly hôn. Việc xác định đúng đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng giúp vợ chồng chủ động hơn trong quản lý, sử dụng tài sản và là căn cứ quan trọng khi giải quyết giao dịch dân sự liên quan đến bên thứ ba. Bài viết dưới đây trình bày các quy định hiện hành về khái niệm, căn cứ xác định và quyền của vợ chồng đối với từng loại tài sản, theo Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 81/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025) và Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình.
Phân biệt tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng
Tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng khác nhau ở nguồn gốc hình thành và quyền quản lý, sử dụng, định đoạt. Tài sản chung là tài sản được vợ, chồng cùng tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân qua lao động, sản xuất, kinh doanh hoặc do hai bên thỏa thuận xác lập là của chung. Ngược lại, tài sản riêng là tài sản mà một bên đã có trước khi kết hôn, hoặc được thừa kế, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân mà không có sự đóng góp của bên còn lại.
Ví dụ, nếu hai vợ chồng cùng góp tiền mua một chiếc xe ô tô trong thời kỳ hôn nhân thì chiếc xe đó là tài sản chung. Ngược lại, một người đứng tên căn hộ chung cư và hoàn tất thủ tục cấp giấy chứng nhận trước ngày đăng ký kết hôn thì căn hộ này vẫn là tài sản riêng. Việc phân biệt rõ hai loại tài sản này có ý nghĩa quan trọng khi giải quyết tranh chấp, ly hôn.
Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng
Tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng được xác định dựa trên căn cứ pháp lý cụ thể, trong đó tài sản chung quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo đó, tài sản chung gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập từ lao động, sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được chia riêng theo khoản 1 Điều 40 của Luật này. Tài sản được thừa kế chung, tặng cho chung hoặc do hai bên thỏa thuận là của chung cũng thuộc khối tài sản chung. Quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn cũng là tài sản chung, trừ trường hợp một bên được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc có được qua giao dịch bằng tài sản riêng.
Ngoài ra, khoản 1 Điều 9 Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng gồm khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 11 của Nghị định này (khoản trợ cấp, ưu đãi người có công với cách mạng và quyền tài sản gắn liền nhân thân được xác định là tài sản riêng).
Căn cứ xác định tài sản riêng của vợ chồng
Song song với tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được chia riêng theo các Điều 38, 39 và 40 của Luật này, tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà pháp luật quy định thuộc sở hữu riêng. Tài sản hình thành từ tài sản riêng cũng là tài sản riêng, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng thực hiện theo khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.
Ngoài ra, Điều 11 Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định thêm một số tài sản riêng khác, gồm quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ, tài sản xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền, khoản trợ cấp, ưu đãi dành cho người có công với cách mạng và quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng. Cần lưu ý rằng tài sản nhận được qua hợp đồng tặng cho riêng hoặc văn bản phân chia di sản thừa kế ghi rõ là tài sản riêng thì được xác định là tài sản riêng theo đúng nội dung văn bản đó. Riêng đối với bất động sản chỉ đứng tên một bên vợ hoặc chồng trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo khoản 2 Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình, nếu có tranh chấp thì được giải quyết theo khoản 3 Điều 33 của Luật này, tức là nếu không có căn cứ chứng minh đó là tài sản riêng thì tài sản được coi là tài sản chung.
Quyền của vợ, chồng đối với tài sản riêng
Pháp luật hiện hành ghi nhận vợ, chồng có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản riêng của mình theo quy định tại Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Mỗi bên có quyền quyết định nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung mà không phụ thuộc vào ý chí của bên còn lại. Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người, chẳng hạn nghĩa vụ với bên thứ ba liên quan đến tài sản riêng, được thanh toán từ chính tài sản riêng của người đó. Tuy nhiên, nếu hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này cần có sự đồng ý của cả vợ và chồng nhằm bảo đảm đời sống chung.
Nhập tài sản riêng vào tài sản chung được thực hiện như thế nào?
Tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng không phải là hai khối tài sản cố định suốt thời kỳ hôn nhân, bởi pháp luật cho phép vợ chồng thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung theo quy định tại Điều 46 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng và phải lập thành văn bản. Đối với tài sản mà giao dịch liên quan phải tuân theo hình thức nhất định như công chứng, chứng thực – chẳng hạn bất động sản hay xe ô tô – thì thỏa thuận nhập tài sản cũng phải bảo đảm đúng hình thức đó. Sau khi tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung, nghĩa vụ liên quan đến tài sản này được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Có thể chuyển tài sản chung thành tài sản riêng không?
Ngược lại với việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung, hiện nay pháp luật chưa có quy định cụ thể về thủ tục chuyển tài sản chung thành tài sản riêng của vợ hoặc chồng. Tuy nhiên, theo Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận thực hiện. Đồng thời, khoản 1 Điều 38 của Luật này quy định trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này, nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Như vậy, vợ chồng hoàn toàn có thể xác lập thỏa thuận phân chia tài sản chung, qua đó phần tài sản được chia sẽ trở thành tài sản riêng của mỗi bên.
Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng vô hiệu khi nào?
Khi vợ chồng lựa chọn xác lập chế độ tài sản theo thỏa thuận, thỏa thuận đó có thể bị tuyên vô hiệu trong một số trường hợp theo quy định tại Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Cụ thể, thỏa thuận vô hiệu nếu không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan, hoặc vi phạm một trong các quy định tại các Điều 29, 30, 31 và 32 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về nguyên tắc chung của chế độ tài sản vợ chồng. Ngoài ra, nếu nội dung thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con hoặc thành viên khác trong gia đình thì thỏa thuận đó cũng không có giá trị pháp lý.
Một số vấn đề thường gặp về tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng
Tài sản riêng do ai quản lý?
Theo khoản 2 Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản riêng của vợ hoặc chồng trước hết do chính người sở hữu tự quản lý hoặc ủy quyền cho người khác quản lý. Chỉ trong trường hợp người sở hữu không thể tự mình quản lý và cũng không ủy quyền cho ai thì bên vợ hoặc chồng còn lại mới có quyền quản lý tài sản đó, với điều kiện việc quản lý phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản. Quy định này nhằm bảo đảm tài sản riêng luôn có người trông coi, tránh thất thoát trong thời gian chủ sở hữu vắng mặt hay gặp khó khăn trong việc tự quản lý, đồng thời không làm phát sinh quyền sở hữu của bên quản lý đối với tài sản đó.
Tài sản riêng của một bên có bị chia khi ly hôn không?
Căn cứ khoản 4 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã được nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này. Trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà một bên có yêu cầu chia tài sản thì người đó được thanh toán phần giá trị tương ứng với công sức đóng góp vào khối tài sản đó, trừ khi vợ chồng có thỏa thuận khác. Như vậy, nếu trong thời kỳ hôn nhân, một bên đã đóng góp công sức vào tài sản riêng của bên kia thì khi ly hôn, bên đã đóng góp vẫn có quyền yêu cầu được thanh toán phần giá trị tương ứng.
Kết luận
Tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng là hai khái niệm pháp lý quan trọng, giúp bảo vệ quyền lợi của mỗi bên trong thời kỳ hôn nhân cũng như khi giải quyết ly hôn. Việc nắm rõ căn cứ xác định, quyền quản lý, sử dụng, định đoạt cũng như quy định về nhập, chia tài sản giúp vợ chồng chủ động hơn trong quản lý tài sản và hạn chế tranh chấp không đáng có. Mỗi trường hợp tài sản cụ thể có thể phát sinh tình huống pháp lý phức tạp, đòi hỏi đối chiếu chính xác với quy định pháp luật hiện hành. Nếu quý khách còn vướng mắc về việc xác định, phân chia tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng, quý khách có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi để được hỗ trợ kịp thời, chính xác.
Hãng luật Thủ Đức Sài Gòn
Số 01 đường số 2, Phường Linh Chiểu, TP. Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh
Số điện thoại: 0937.218.686
Email: luatsunguyenhuungoc@gmail.com
