Tin tức · Ngày cập nhật: 28/08/2026 · 26 phút đọc · Đăng bởi Luật sư Nguyễn Hữu Ngọc

Độ Tuổi Chịu Trách Nhiệm Hình Sự Áp Dụng Thế Nào Hiện Nay

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Chia sẻ:

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự là căn cứ pháp lý quan trọng để xác định một người có phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi nguy hiểm cho xã hội mà mình gây ra hay không. Đây cũng là nội dung được nhiều người quan tâm khi tìm hiểu về pháp luật hình sự, đặc biệt trong bối cảnh các vụ việc liên quan đến người chưa thành niên phạm tội ngày càng được xã hội chú ý. Bài viết dưới đây sẽ hệ thống lại quy định hiện hành về vấn đề này theo Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đồng thời cập nhật những điểm mới liên quan đến việc xử lý người chưa thành niên phạm tội để bạn đọc có cái nhìn đầy đủ và chính xác nhất.

Trách nhiệm hình sự và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự là gì

Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý bất lợi mà một người phải gánh chịu trước Nhà nước khi thực hiện hành vi được Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm. Theo Điều 2 Bộ luật Hình sự năm 2015, chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, không phải ai thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng đương nhiên bị coi là có tội, bởi năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mỗi người còn phụ thuộc vào độ tuổi.

Chính vì vậy, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được hiểu là mốc tuổi tối thiểu mà tại đó một người được coi là có đủ khả năng nhận thức tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mình thực hiện, từ đó phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng. Đây là quy định mang tính nhân đạo, thể hiện chính sách hình sự nhất quán của Nhà nước ta là bảo vệ, giáo dục người chưa thành niên thay vì chỉ tập trung vào việc trừng phạt.

Cơ sở pháp lý quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Hiện nay, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2017. So với Bộ luật Hình sự năm 1999, quy định tại Điều 12 hiện hành đã bổ sung cụm từ “trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác” nhằm giải quyết những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn xét xử. Cụm từ này nhằm tránh xung đột với một số điều luật trong phần các tội phạm cụ thể mà chủ thể bắt buộc phải là người đủ 18 tuổi trở lên, chẳng hạn tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi và tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm.

Ngoài ra, khoản 2 Điều 12 cũng liệt kê cụ thể từng điều luật mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự, thay vì quy định chung chung theo nhóm tội danh như trước đây. Cách quy định này giúp việc áp dụng pháp luật trở nên minh bạch, rõ ràng và thống nhất hơn giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trên cả nước.

Quy định cụ thể về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự

Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 chia độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thành ba nhóm cơ bản, tương ứng với ba mức độ trách nhiệm pháp lý khác nhau như sau.

Người từ đủ 16 tuổi trở lên

Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật Hình sự có quy định riêng về độ tuổi của chủ thể. Đây là nhóm đối tượng được coi là đã có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, do đó phải chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật giống như người trưởng thành, chỉ khác ở chính sách khoan hồng, giảm nhẹ khi lượng hình.

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm mà chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được liệt kê cụ thể tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015. Danh sách các tội danh này sẽ được trình bày chi tiết ở phần tiếp theo của bài viết.

Người dưới 14 tuổi

Người chưa đủ 14 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự trong bất kỳ trường hợp nào, kể cả khi hành vi họ thực hiện gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Về mặt khoa học pháp lý, ở độ tuổi này trí tuệ và khả năng tự chủ khi hành động chưa phát triển đầy đủ nên các nhà làm luật xác định người dưới 14 tuổi chưa đủ điều kiện để bị coi là có lỗi đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà mình gây ra. Trường hợp trẻ dưới 14 tuổi gây thiệt hại, trách nhiệm bồi thường dân sự thường thuộc về cha, mẹ hoặc người giám hộ theo quy định của pháp luật dân sự.

Danh sách tội danh mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

Theo khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại một trong các điều luật sau đây.

  • Điều 123, tội giết người
  • Điều 134, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
  • Điều 141, tội hiếp dâm
  • Điều 142, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
  • Điều 143, tội cưỡng dâm
  • Điều 144, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
  • Điều 150, tội mua bán người
  • Điều 151, tội mua bán người dưới 16 tuổi
  • Điều 168, tội cướp tài sản
  • Điều 169, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
  • Điều 170, tội cưỡng đoạt tài sản
  • Điều 171, tội cướp giật tài sản
  • Điều 173, tội trộm cắp tài sản
  • Điều 178, tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
  • Điều 248, tội sản xuất trái phép chất ma túy
  • Điều 249, tội tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Điều 250, tội vận chuyển trái phép chất ma túy
  • Điều 251, tội mua bán trái phép chất ma túy
  • Điều 252, tội chiếm đoạt chất ma túy
  • Điều 265, tội tổ chức đua xe trái phép
  • Điều 266, tội đua xe trái phép
  • Điều 286, tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử
  • Điều 287, tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử
  • Điều 289, tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác
  • Điều 290, tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
  • Điều 299, tội khủng bố
  • Điều 303, tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia
  • Điều 304, tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự

Có thể thấy, phạm vi các tội danh mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự đã được thu hẹp đáng kể so với trước đây, tập trung vào những nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, tài sản và các tội liên quan đến ma túy, an ninh mạng có tính chất, mức độ nguy hiểm cao, xảy ra phổ biến trong thực tiễn.

Phân loại tội phạm làm căn cứ xác định trách nhiệm hình sự

Để xác định một tội danh có thuộc trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự hay không, cần căn cứ vào cách phân loại tội phạm tại Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo đó, tội phạm được chia thành bốn loại dựa trên tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.

  • Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 3 năm
  • Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt là từ trên 3 năm tù đến 7 năm tù
  • Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt là từ trên 7 năm tù đến 15 năm tù
  • Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình

Như vậy, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi hành vi vi phạm rơi vào hai nhóm sau cùng là tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, đồng thời tội danh đó phải thuộc danh sách được liệt kê cụ thể tại khoản 2 Điều 12 nêu trên.

Trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội của người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi

Ngoài các tội phạm đã hoàn thành, pháp luật hình sự còn đặt ra vấn đề trách nhiệm hình sự đối với giai đoạn chuẩn bị phạm tội. Theo khoản 3 Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123 (tội giết người) và Điều 168 (tội cướp tài sản) thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Đây là hai tội danh có tính chất đặc biệt nguy hiểm, do đó nhà làm luật quy định xử lý ngay từ giai đoạn chuẩn bị nhằm ngăn chặn hậu quả có thể xảy ra, dù người thực hiện chưa đủ 16 tuổi.

Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Việc xác định một người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự mới chỉ là bước đầu tiên. Quá trình xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội trên thực tế còn phải tuân theo nhiều nguyên tắc riêng, thể hiện rõ tính nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam.

Nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất và mục đích giáo dục

Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người đó và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ được thực hiện trong trường hợp thật cần thiết, có căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và yêu cầu phòng ngừa tội phạm. Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan tiến hành tố tụng đều phải xác định khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi về tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.

Nguyên tắc này được quy định tại Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, kể từ ngày 01/01/2026, phần lớn trình tự, thủ tục xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội (bao gồm cả Chương XXVIII Bộ luật Tố tụng hình sự) đã được thay thế bằng các quy định chuyên biệt của Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15.

Điểm mới từ Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024

Cần lưu ý, Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15 đã chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026, quy định riêng về xử lý chuyển hướng, hình phạt và thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội. Đạo luật này bổ sung nhiều biện pháp xử lý chuyển hướng mang tính giáo dục, phòng ngừa, được áp dụng thay thế cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự trong những trường hợp phù hợp, nhằm hạn chế tối đa việc người chưa thành niên phải trải qua quy trình tố tụng hình sự phức tạp. Tuy nhiên, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự cùng danh sách tội danh áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn được giữ nguyên, không bị thay đổi bởi đạo luật mới này.

Cách xác định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự trên thực tế

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, việc xác định chính xác độ tuổi của người bị nghi thực hiện hành vi phạm tội có ý nghĩa quyết định đến việc có truy cứu trách nhiệm hình sự hay không và truy cứu ở mức độ nào. Tuổi của một người thường được xác định dựa trên các giấy tờ hợp pháp như giấy khai sinh, căn cước công dân hoặc hộ chiếu. Cách tính tuổi phải căn cứ vào ngày, tháng, năm sinh cụ thể chứ không chỉ dựa vào năm sinh, bởi việc chênh lệch dù chỉ một ngày cũng có thể làm thay đổi hoàn toàn trách nhiệm pháp lý của người đó. Trường hợp không xác định được ngày sinh chính xác, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ áp dụng nguyên tắc suy đoán có lợi cho người bị buộc tội theo hướng dẫn của cơ quan tư pháp có thẩm quyền.

Nguyên tắc xác định tuổi trong trường hợp không có giấy tờ hợp lệ hoặc không thống nhất được hướng dẫn cụ thể tại các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao (không quy định trực tiếp trong Bộ luật Hình sự).

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Bên cạnh độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự cũng là yếu tố cần được xem xét khi xử lý một hành vi phạm tội. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật Hình sự quy định mà khi hết thời hạn đó, người phạm tội sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa. Theo Điều 27 Bộ luật Hình sự năm 2015, thời hiệu này được quy định như sau.

  • 5 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng
  • 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng
  • 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng
  • 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn nêu trên, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 1 năm tù thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới. Trường hợp người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã thì thời hiệu được tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.

Lưu ý, một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng như các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phá hoại hòa bình, chống loài người, tội phạm chiến tranh và một số trường hợp tham ô tài sản, nhận hối lộ đặc biệt nghiêm trọng thì không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 28 Bộ luật Hình sự.

Một số câu hỏi thường gặp về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Người 13 tuổi thực hiện hành vi giết người có bị xử lý hình sự không?

Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, người dưới 14 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự trong bất kỳ trường hợp nào, kể cả đối với tội giết người. Do đó, người 13 tuổi thực hiện hành vi giết người sẽ không bị xử lý hình sự mà chỉ có thể bị áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng, giáo dục tại cộng đồng hoặc biện pháp quản lý theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Trẻ dưới 14 tuổi gây thiệt hại thì ai phải chịu trách nhiệm?

Về trách nhiệm hình sự, trẻ dưới 14 tuổi không phải chịu trách nhiệm do chưa đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, về trách nhiệm dân sự, nếu hành vi của trẻ gây thiệt hại cho người khác, cha, mẹ hoặc người giám hộ của trẻ sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự hiện hành, trừ trường hợp cha, mẹ hoặc người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám sát, giáo dục trẻ.

Có thể thấy, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự là quy định nền tảng, chi phối toàn bộ quá trình xác định trách nhiệm pháp lý của một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Việc nắm rõ các mốc tuổi cùng danh sách tội danh cụ thể theo Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 không chỉ giúp cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng pháp luật thống nhất mà còn giúp người dân, đặc biệt là các bậc phụ huynh, chủ động hơn trong việc giáo dục, quản lý con em mình. Nếu còn vướng mắc liên quan đến vấn đề này hoặc cần tư vấn cụ thể đối với từng vụ việc phát sinh trên thực tế, bạn đọc nên tìm đến sự hỗ trợ của luật sư hoặc tổ chức hành nghề luật để được giải đáp chính xác, kịp thời.

Hãng Luật Thủ Đức Sài Gòn

  • Số 01 đường số 2, Phường Linh Chiểu, TP. Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh
  • Số điện thoại: 0937.218.686
  • Email: luatsunguyenhuungoc@gmail.com
Đánh giá post
Luat-su-dat-dai-Nguyen-Huu-Ngoc

Tác giả

Luật sư Nguyễn Hữu Ngọc

Luật sư Nguyễn Hữu Ngọc với hơn 5 năm kinh nghiệm hành nghề trong nhiều lĩnh vực pháp lý. Ông có chuyên môn sâu về tư vấn doanh nghiệp, tranh chấp đất đai, hôn nhân gia đình và giải quyết tranh chấp dân sự. Với phương châm đặt quyền lợi khách hàng lên hàng đầu, Luật sư Nguyễn Hữu Ngọc luôn nỗ lực cung cấp giải pháp pháp lý tối ưu, rõ ràng và hiệu quả cho từng trường hợp cụ thể.

Bài Viết Liên Quan